Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

sáu nguyên do gây ra vấn đề về ô nhiễm nguồn nước ngầm. phần một


Sự làm bẩn của nước ngầm nước ngầm là một dạng nước bên dưới đất, tích trữ trong một số lớp đất đá hóa thạch bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ phía dưới mặt Trái đất, có thể sử dụng cho các việc sống của con người
Theo độ sâu phân bố, có thể chia mạch nước ngầm thành nước ngầm tầng mặt và mạch nước ngầm tầng sâu. đặc điểm dễ nhận thấy của nước ngầm là cách di chuyển nhanh trong một số lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy đi theo địa hình. nước ngầm tầng mặt thường không có lớp ngăn cách với địa hình bề mặt. bởi vậy, thành phần & mực nước biến đổi nhiều, dựa vào vào trường hợp của nước mặt. Loại nước chảy ngầm tầng mặt rất dễ bị làm bẩn. nước chảy ngầm tầng sâu thường nằm trong lớp đất cát xốp được ngăn cách bên trên và phía dưới bởi những lớp không thấm nước. Theo không gian phân bố, 1 lớp nước chảy ngầm tầng sâu thường có ba vùng chức năng:
Vùng thu nhận nước.
Vùng chuyển tải nước.
Vùng sử dụng nước có áp.
độ rộng giữa vùng thu nhận & vùng khai thác nước thường rất xa, từ vài chục đến vài trăm km. Các lỗ khoan nước ở vùng sử dụng thường có áp lực. đây là loại nước ngầm có chất lượng tốt & lưu lượng ổn định. Trong các nơi phát triển đá cacbonat thường tồn tại loại mạch nước ngầm caxtơ di chuyển theo các khe nứt caxtơ. Trong các dải đất cát vùng ven biển thường có các thấu kính nước ngọt nằm trên mực nước biển.
nước ngầm là nguồn giới thiệu nước sinh hoạt chủ yếu ở nhiều quốc gia và vùng dân cư trên thế giới. chính vì thế, nhiễm bẩn nước chảy ngầm có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng môi trường sống của con người. Các tác động gây nhiễm bẩn và suy thoái mạch nước ngầm gồm có:
Các tác động thiên nhiên như nhiễm mặn, nhiễm phèn, hàm lượng Fe, Mn và một số kim loại khác.
Các tác động được con người tạo ra như nồng độ kim loại nặng cao, hàm lượng NO-3, NO-9, NH4+, PO4 v.v... vượt tiêu chuẩn cho phép, nhiễm bẩn bởi vi sinh vật. hỏng dần trữ lượng mạch nước ngầm thể hiện bởi giảm công suất khai thác, hạ thấp mực nước ngầm, lún đất.
Ngày nay, hiện trạng ô nhiễm & suy thoái nước chảy ngầm đang thường gặp ở các nơi đô thị & các thành phố lớn trên thế giới. Để hạn chế tác động làm bẩn & suy thoái nước chảy ngầm cần phải tiến hành đồng bộ các công tác điều tra, thăm dò trữ lượng và chất lượng nguồn mạch nước ngầm, giải quyết nước thải và chống nhiễm bẩn các nguồn nước mặt, quan trắc thường xuyên trữ lượng và chất lượng mạch nước ngầm.
NƯỚC BỊ LÀM BẨN KIM LOẠI NẶNG
kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn, v.v... thường không tham gia hoặc ít tham dự vào các bước sinh hóa của các thể sinh vật & thường tích lũy trong cơ thể chúng. bởi thế, chúng là các chất độc hại với sinh vật. hiện tượng nước bị làm bẩn chất kim loại nặng thường gặp trong các lưu vực nước gần các khu công nghiệp, các thành phố lớn & nơi khai thác khoáng sản. làm bẩn chất kim loại nặng biểu hiện ở nồng độ cao của các chất kim loại nặng trong nước. Trong một số trường hợp, có mặt hiện tượng cá và thuỷ sinh vật chết hàng loạt.
nguyên do chính gây nhiễm bẩn kim loại nặng là quá trình đổ vào môi trường nước nước thải công nghiệp và nước thải độc hại không xử lý hoặc giải quyết không đạt yêu cầu. nhiễm bẩn nước bởi chất kim loại nặng có tác động tiêu cực tới nơi sinh sống của sinh vật & con người. chất kim loại nặng tích trong theo chuỗi thức ăn thâm nhập và cơ thể người. Nước mặt bị ô nhiễm sẽ truyền các chất ô nhiễm vào mạch nước ngầm, vào đất & các phần môi trường liên quan khác. Để hạn chế ô nhiễm nước, cần phải tăng thêm biện pháp xử lý nước thải công nghiệp, quản lý tốt vật nuôi trong môi trường có nguy cơ bị ô nhiễm như nuôi cá, trồng rau bằng nguồn nước thải.
NƯỚC BỊ Ô NHIỄM VI SINH VẬT

Sinh vật có mặt trong môi trường nước ở nhiều dạng khác nhau. Bên cạnh các sinh vật có ích, có nhiều nhóm sinh vật gây bệnh hoặc truyền bệnh cho người và sinh vật. Trong số này, đáng chú ý là các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn & ký sinh trùng lây bệnh như các loại ký sinh trùng bệnh tả, lỵ, thương hàn, sốt rét, siêu vi khuẩn viêm gan B, siêu vi khuẩn viêm não Nhật Bản, giun đỏ, trứng giun v.v...
Nguồn gây nhiễm bẩn sinh học cho môi trường nước chính yếu là phân rác, nước thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nước thải các bệnh viện v.v... Để đánh giá chất lượng nước dưới góc độ ô nhiễm ảnh hưởng sinh học, người ta thường dùng chỉ số coliform. đây là chỉ số phản ánh số lượng trong nước vi khuẩn coliform, thường không gây bệnh cho người và sinh vật, nhưng thể hiện sự làm bẩn nước bởi các ảnh hưởng sinh học. Để xác định chỉ số coliform người ta nuôi cấy mẫu trong các dung dịch đặc biệt & đếm số lượng chúng sau một thời gian nhất định. làm bẩn nước được định rõ theo các giá trị tiêu chuẩn môi trường.
Để hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của ô nhiễm vi sinh vật nguồn nước mặt, cần nghiên cứu các biện pháp xử lý nước thải, cải thiện tình trạng vệ sinh nơi sống của người dân sống, tổ chức tốt hoạt động y tế và dịch vụ công cộng.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét